60 năm xây dựng và phát triển lực lượng điều tra ngành Kiểm sát nhân dân (18/4/1962-18/4/2022)



Trải qua 60 năm lịch sử, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, giám sát thường xuyên của Quốc hội, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan nhà nước, các tổ chức ở trung ương và địa phương, sự đồng tình ủng hộ của nhân dân, ngành Kiểm sát nhân dân nói chung và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao nói riêng đã không ngừng phấn đấu và trưởng thành; đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của nhân dân, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập lực lượng điều tra của ngành Kiểm sát nhân dân (18/4/1962 – 18/4/2022), chúng ta cùng nhìn lại chặng đường phát triển của Cơ quan điều tra.

* Ngày 18/4/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 12/LCT công bố Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Điều 5 Pháp lệnh quy định bộ máy làm việc của VKSND tối cao có 8 đơn vị, trong đó có Vụ Điều tra thẩm cứu; đánh dấu sự hình thành tổ chức Cơ quan điều tra ngành KSND.

Trong những năm đầu xây dựng ngành Kiểm sát nhân dân, Phòng Điều tra thẩm cứu (là đơn vị tiền thân của Cơ quan điều tra ngành Kiểm sát nhân dân) và sau đó là Vụ Điều tra thẩm cứu tại VKSND tối cao có nhiệm vụ trực tiếp điều tra một số loại phạm pháp kinh tế và trị an xã hội.

* Đến năm 1981, Vụ Điều tra thẩm cứu tại VKSND tối cao có 10 cán bộ điều tra, trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra và các đơn vị thuộc VKSND thực hiện nhiệm vụ điều tra các vụ án do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên giao và các vụ án Viện trưởng Viện kiểm sát thấy cần thiết phải trực tiếp điều tra. Trên thực tế, Viện kiểm sát tiến hành điều tra khi thấy cần thiết trong các trường hợp: Để bảo đảm việc điều tra vụ án được tiến hành khách quan; những vụ cán bộ điều tra, kiểm sát, tòa án phạm tội; cán bộ có chức vụ quan trọng mà cấp ủy giao; những vụ mà Viện kiểm sát khởi tố yêu cầu cơ quan Công an nhưng cơ quan Công an không thực hiện thì Viện kiểm sát có thể trực tiếp điều tra.

* Năm 1984, do yêu cầu của nhiệm vụ công tác, ngoài Vụ Điều tra thẩm cứu tại VKSND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao đã ra quyết định thành lập 4 Phòng Điều tra thẩm cứu ở các VKSND thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Nam – Đà Nẵng.

* Năm 1989, trên cơ sở quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự đã quy định: Cơ quan điều tra VKSND là một trong hệ thống các Cơ quan điều tra chuyên trách; có thẩm quyền điều tra trong những trường hợp sau đây, khi Viện trưởng xét thấy cần thiết:

  1. a) Khi phát hiện việc điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng;
  2. b) Khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật, phát hiện những vụ phạm tội rõ ràng, không cần thiết phải chuyển cho cơ quan điều tra khác;
  3. c) Khi phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp; Viện trưởng VKSND tối cao có thể giao cho cơ quan điều tra của VKSND điều tra trong những trường hợp khác.

Ở giai đoạn này, Cơ quan điều tra ngành Kiểm sát nhân dân được tổ chức ở hai cấp: Tại VKSND tối cao có Cục Điều tra đồng thời là Cơ quan điều tra (được thành lập trên cơ sở Vụ Điều tra thẩm cứu), còn ở VKSND các tỉnh có 36 Phòng Điều tra trên tổng số 61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Viện kiểm sát quân sự có Phòng Điều tra và 18 Ban Điều tra thuộc Viện kiểm sát quân sự cấp thứ hai. Về lực lượng, Cơ quan điều tra có 15 cán bộ, ở Phòng Điều tra của mỗi Viện kiểm sát cấp tỉnh có từ 3 cán bộ trở lên. Phòng Điều tra VKSND thành phố Hồ Chí Minh có nhiều cán bộ nhất là 8 người. Trong giai đoạn này, tổng số cán bộ thuộc hệ thống Cơ quan điều tra VKSND có 124 người; trong đó có 105 Điều tra viên (chiếm 84,7%) gồm 5 Điều tra viên cao cấp ở Cơ quan điều tra; 79 Điều tra viên Trung cấp; 21 Điều tra viên Sơ cấp; còn lại là chuyên viên, nhân viên. Về trình độ, Đại học Luật có 40 người (32,2%); Cao đẳng kiểm sát có 69 người (55,6%).

Các đồng chí cán bộ, Điều tra viên Cục Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao chụp ảnh lưu niệm nhân dịp Hội nghị tổng kết năm 1991

* Năm 2000, theo tinh thần tại Thông báo số 136/TB-TW ngày 25/01/1996 của Bộ Chính trị đánh giá và định hướng cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, Chỉ thị số 01/2000/CT ngày 10/01/2000 của Viện trưởng VKSND tối cao về công tác điều tra năm 2000 đã khẳng định: “Thực hiện đổi mới Cơ quan điều tra của VKSND theo hướng tăng cường tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra thuộc VKSND tối cao, chỉ để lại Phòng Điều tra Viện kiểm sát cấp tỉnh ở những nơi xét thấy thật cần thiết. Cơ quan điều tra của VKSND chỉ tập trung vào việc điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ của cơ quan tư pháp”. Do vậy, chỉ còn 10 VKSND tỉnh, thành phố có Phòng Điều tra (không kể Phòng Điều tra Viện kiểm sát quân sự Trung ương và 8 Ban Điều tra cấp thứ hai).

* Từ năm 2003 đến 2009, theo yêu cầu cải cách tư pháp, thực hiện chủ trương Viện kiểm sát không thực hiện chức năng kiểm sát chung mà tập trung thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp được nêu trong Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị; căn cứ vào Luật Tổ chức VKSND năm 2002, các Phòng Điều tra của VKSND tỉnh, thành phố đều được giải thể, Cơ quan điều tra ngành Kiểm sát nhân dân chỉ được tổ chức ở VKSND tối cao với thẩm quyền “Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp”.

Bộ máy của Cơ quan điều tra ngành Kiểm sát nhân dân đã được tổ chức lại, theo Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, ban hành kèm theo Quyết định số 66/2005/QĐ-VKSTC-C6 ngày 13/04/2005 của Viện trưởng VKSND tối cao thì Cơ quan điều tra VKSND  tối cao có 03 phòng: Phòng Tham mưu tổng hợp (Phòng 1); Phòng Điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp tại các tỉnh phía Bắc (Phòng 2); Phòng Điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp tại các tỉnh phía Nam (Phòng 3). Trong đó Phòng 3 có 02 tổ công tác đặt tại thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng. Về cán bộ, Cơ quan điều tra VKSND tối cao được biên chế 32 người, trong đó có 14 Điều tra viên cao cấp, 16 Điều tra viên trung cấp, 01 Điều tra viên sơ cấp và 01 chuyên viên. Về bộ máy lãnh đạo, quản lý, gồm có: Cục trưởng, 03 Phó Cục trưởng, 03 Phòng nghiệp vụ, trong đó có Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng nghiệp vụ.

Trong giai đoạn này, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã khởi tố nhiều vụ án nghiêm trọng, phức tạp như: Vụ án “Bắt giữ người trái pháp luật”, “Dùng nhục hình”, “Bức cung”, (bí số KC50) xảy ra tại tỉnh Cửu Long (nay là Vĩnh Long và Trà Vinh); Vụ án “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Đầm Dơi (Cà Mau); Vụ án Nguyễn Hồng Nhật, nguyên Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Long; Bùi Văn Bồng nguyên Trưởng phòng Kiểm sát điều tra án kinh tế VKSND tỉnh Vĩnh Long cùng một số cán bộ, Điều tra viên khác đã phạm tội “Tha trái pháp luật người bị giam” và “Nhận hối lộ”; Vụ Huỳnh Kim Tuân, Võ Tuấn Anh Thư là chiến sĩ Công an thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”…

* Năm 2010, thực hiện chủ trương đẩy mạnh cải cách tư pháp, đổi mới tổ chức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của VKSND để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã từng bước được củng cố, kiện toàn và tăng cường.

Ngày 20/04/2010, Đảng ủy VKSND tối cao có Quyết định số 495-QĐ/TV thành lập Đảng bộ cơ sở Cơ quan điều tra hình sự VKSND tối cao; với 5 Chi bộ trực thuộc và đã tổ chức thành công Đại hội Đảng bộ cơ sở lần thứ nhất, bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2010 – 2015.

Ngày 19/8/2010, Viện trưởng VKSND tối cao ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra VKSND tối cao kèm theo Quyết định 1169/2010/VKSTC-C6 (gọi tắt là Quy chế 1169). Theo đó, tổ chức của Cơ quan điều tra – Cơ quan điều tra VKSND tối cao gồm 5 Phòng nghiệp vụ; 2 Đại diện Thường trực Cơ quan điều tra VKSND tối cao tại các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên và miền Nam; với tổng số 52 biên chế. Về bộ máy gồm có: Cục trưởng và 5 Phó Cục trưởng; 5 Trưởng phòng, 8 Phó Trưởng phòng và 16 Đội trưởng Đội nghiệp vụ; có 33 Điều tra viên các cấp (15 Điều tra viên Cao cấp, 16 Điều tra viên Trung cấp và 2 Điều tra viên Sơ cấp). Về trình độ có 2 Tiến sỹ luật, 7 Thạc sỹ luật, 28 Cử nhân luật, 5 Cử nhân chuyên ngành khác, 8 đồng chí tốt nghiệp Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân.

Trên cơ sở khái niệm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Điều 292 Bộ luật hình sự, đồng thời cụ thể hóa quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Điều 4 Quy chế 1169 quy định: “Cơ quan điều tra VKSND tối cao có thẩm quyền điều tra các tội phạm sau đây:

  1. Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXII của Bộ luật hình sự mà người phạm tội là cán bộ của các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân;
  2. Các tội phạm có nguồn gốc phát sinh từ việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp hoặc liên quan đến việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp hoặc liên quan đến việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ các cơ quan tư pháp trong quá trình tiến hành tố tụng (hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động…) ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án;
  3. Hành vi phạm tội hoặc người thực hiện hành vi phạm tội có liên quan đến vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao đang khởi tố, điều tra”.

Kết quả công tác năm 2010, Cơ quan điều tra đã tiếp nhận tổng số 497 tố giác, tin báo về tội phạm, tăng 14,5% so với năm 2009; đã phân loại xác định có 178 tố giác, tin báo liên quan đến hoạt động tư pháp, tăng 89,4% so với cùng kỳ; đã kết thúc kiểm tra, xác minh 45 tố giác, tin báo về tội phạm, đạt tỷ lệ 72,6%. Khởi tố, thụ lý điều tra 21 vụ/42 bị can, tăng 110% so với năm 2009. Qua kết quả công tác điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra đã ban hành 25 văn bản kiến nghị gửi tới các cơ quan, tổ chức có liên quan.

* Từ năm 2011 đến 2017, Tiếp tục thực hiện chủ trương đẩy mạnh cải cách tư pháp, đổi mới tổ chức nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của VKSND để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 16/8/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ra Nghị quyết số 522e/NQ-UBTVQH13, theo đó đã quyết định bổ sung biên chế cán bộ, Điều tra viên cho Cơ quan điều tra VKSND tối cao thành 185 biên chế, trong đó có 35 Điều tra viên cao cấp.

Ngày 20/11/2015, Viện trưởng VKSND tối cao ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra VKSND tối cao kèm theo Quyết định số 18/QĐ/VKSTC-C1 (gọi tắt là Quy chế 18) thay thế cho Quy chế 1169. Đến nay, căn cứ các Quyết định của Viện trưởng VKSND tối cao về việc thành lập các phòng nghiệp vụ; theo đó tổ chức bộ máy của Cơ quan điều tra VKSND tối cao gồm: 7 Phòng nghiệp vụ; 2 Đại diện Thường trực Cơ quan điều tra VKSND tối cao tại các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên và miền Nam; với tổng số 103 biên chế. Về bộ máy gồm có: Thủ trưởng và 5 Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; 7 Trưởng phòng, 14 Phó Trưởng phòng; có 01 Kiểm sát viên VKSND tối cao và 85 Điều tra viên các cấp (26 Điều tra viên Cao cấp, 43 Điều tra viên Trung cấp và 16 Điều tra viên Sơ cấp). Về trình độ: có 01 Tiến sỹ luật, 22 Thạc sỹ luật, 72 Cử nhân luật, 4 Cử nhân chuyên ngành khác, trong đó có 18 đồng chí tốt nghiệp Học viện An ninh nhân dân và Học viện Cảnh sát nhân dân.

Lễ khai giảng Lớp bồi dưỡng Nghiệp vụ kỹ thuật hình sự Khóa I tại Học viện Cảnh sát nhân dân (Hà Nội, năm 2016)

Trong giai đoạn này, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã tiếp nhận, thu thập 7.332 thông tin về tội phạm, đã nghiên cứu giải quyết 7.109 thông tin (đạt 96,9%). Thụ lý giải quyết tổng số 745 tố giác, đã kết thúc kiểm tra, xác minh, chuyển hồ sơ đến VKSND tối cao kiểm sát theo quy định 713 tố giác, tin báo về tội phạm (đạt 95,7%). Khởi tố, thụ lý điều tra 216 vụ/ 215 bị can; trong đó: Tội phạm về tham nhũng trong hoạt động tư pháp: 88 vụ/ 90 bị can (chiếm 40,8 %); Tội phạm khác về chức vụ trong hoạt động tư pháp: 30 vụ/ 37 bị can (chiếm 13,9%); Tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp: 69 vụ/78 bị can (chiếm 31,9%); Các tội phạm khác: 29 vụ/10 bị can (chiếm 13,4%). Đã kết thúc điều tra 201 vụ/ 198 bị can, (đạt 93,1%).

Cùng với việc chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp, Cơ quan điều tra đã đặc biệt chú trọng và tích cực phát hiện, xác định nguyên nhân, điều kiện dẫn đến vi phạm, tội phạm để kiến nghị đến các cơ quan hữu quan có biện pháp xử lý và phòng ngừa; đồng thời, xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác điều tra. Trong thời gian này, Cơ quan điều tra đã ban hành 465 văn bản kiến nghị[1]. Các kiến nghị trên đều được các cơ quan tư pháp nghiêm túc tiếp thu và có biện pháp khắc phục. Ngoài ra, nhằm đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất trong công tác thi hành án hình sự, công tác tạm giữ, tạm giam của các Nhà tạm giữ, Trại tạm giam, Trại giam thuộc Bộ Công an, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Vụ 6 VKSND tối cao tổng hợp các dạng vi phạm điển hình và ban hành kiến nghị với Tổng cục VIII Bộ Công an về công tác phòng ngừa vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực thi hành án hình sự. Trong giai đoạn này, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã phát hiện, khởi tố, điều tra nhiều vụ án nghiêm trọng, phức tạp về tội phạm tham nhũng, chức vụ trong hoạt động tư pháp cũng như làm rõ những vụ án oan sai, bỏ lọt tội phạm được dư luận xã hội quan tâm, như:

– Vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, căn cứ vào kết quả điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao đã quyết định kháng nghị, trả tự do cho ông Nguyễn Thanh Chấn sau hơn 10 năm bị giam giữ, thi hành án phạt tù oan về tội “Giết người”, Cơ quan điều tra đã khởi tố Lý Nguyễn Chung về tội “Giết người”, đồng thời, khởi tố Trần Nhật Luật, nguyên Điều tra viên thụ lý chính vụ án và 02 bị can khác về tội “Làm sai lệch hồ sơ vụ án”;  Tòa án nhân dân tối cao đã phải bồi thường 7,2 tỷ đồng cho ông Nguyễn Thanh Chấn.

– Vụ Ngô Thanh Phong, nguyên Phó Thủ trưởng thường trực, Nguyễn Văn Nên, nguyên Phó Thủ trưởng và Phạm Văn Út, nguyên Thủ kho vật chứng kiêm Thủ quỹ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” do có hành vi sử dụng tiền tang vật trong vụ án để gửi ngân hàng thu lợi hơn 1,2 tỷ đồng.

– Vụ Đinh Thị Anh Đào, nguyên Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự quận 3 thành phố Hồ Chí Minh về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” do đã có hành vi giả mạo người được thi hành án để ký nhận và chiếm đoạt  số tiền hơn 181 triệu đồng.

* Từ năm 2018 đến nay, Cơ quan điều tra VKSND tối cao ngày càng khẳng định được vai trò và vị trí trong hệ thống các cơ quan tư pháp, góp phần thực hiện có hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của ngành Kiểm sát nhân dân, được Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đơn vị hữu quan và nhân dân tin tưởng, ghi nhận.

Sau khi Quốc hội thông qua Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, từ ngày 01/01/2018, Cơ quan điều tra của VKSND tối cao có thẩm quyền điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV Bộ luật hình sự, xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp, khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân[2]. Như vậy, theo các quy định mới, Cơ quan điều tra VKSND tối cao được mở rộng về thẩm quyền điều tra, trong đó mở rộng cả về loại tội và chủ thể thực hiện tội phạm. Trong đó, các vụ án tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp, vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp mà trước đây thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Công an các cấp, nay thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao. Ngoài ra, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 cũng quy định cụ thể về các nhiệm vụ tăng thêm, như: tổ chức trực ban hình sự, tổ chức sơ kết, tổng kết công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm…

Cùng với việc tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm thuộc thẩm quyền, trên cơ sở tổng kết hoạt động điều tra trong thực tiễn và quy định của Luật, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã tập trung tham mưu với Lãnh đạo VKSND tối cao ban hành 24 Quy chế, Quy định hướng dẫn, triển khai thực hiện luật trong đó, có 05 Quy chế, 18 Quy định, 01 Chỉ thị. Nhiều văn bản quan trọng và lần đầu tiên được ban hành như: Chỉ thị số 05/CT-VKSTC ngày 17/5/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao về tăng cường công tác điều tra của Cơ quan điều tra của VKSND tối cao. Trong đó, nhấn mạnh “Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là thiết chế kiểm soát quyền lực tư pháp, góp phần quan trọng bảo đảm hoạt động tư pháp trong sạch, vững mạnh; đồng thời là cơ chế để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp. Do vậy, phải tập trung tăng cường các nguồn lực nhằm xây dựng Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao đủ mạnh về chuyên môn nghiệp vụ, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới”.

Đặc biệt, trên cơ sở tổng kết hoạt động nghiệp vụ trong thực tiễn và nghiên cứu các quy định của luật, Cơ quan điều tra đã xây dựng Quy trình kiểm tra thông tin về tội phạm, giải quyết nguồn tin về tội phạm và khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra VKSND tối cao[3], Quy định tạm thời về thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong giai đoạn khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao[4]… Những văn bản này như “cẩm nang” để Điều tra viên, Cán bộ điều tra nghiên cứu, áp dụng, nhằm bảo đảm các hoạt động điều tra được thực hiện đúng luật, chuyên nghiệp, chính quy, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, không ngừng nâng cao trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm điều tra cho đội ngũ Điều tra viên, Cán bộ điều tra, nhất là công chức trẻ, mới được tuyển dụng.

Lễ công bố và trao Quyết định bổ nhiệm chức danh Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Hà Nội, ngày 13 tháng 5 năm 2019)

Trong thời gian này, công tác phối hợp với các đơn vị trong và ngoài ngành  Kiểm sát nhân dân tiếp tục được tăng cường. Cơ quan điều tra đã tham mưu với Lãnh đạo VKSND tối cao ký kết Quy chế phối hợp số 01/QC-VKSTC-BQP ngày 10/01/2019 giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ Quốc phòng về công tác tạm giữ, tạm giam, giám định và điều tra kỹ thuật hình sự để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao.

Cơ quan điều tra VKSND tối cao phối hợp Văn phòng VKSND tối cao tổ chức Lễ ký Quy chế phối hợp giữa VKSND tối cao và Bộ Quốc phòng trong công tác tạm giữ, tạm giam, giám định và điều tra kỹ thuật hình sự (Hà Nội, ngày 10 tháng 01 năm 2019)

Để tiếp tục tăng cường mối quan hệ phối hợp thường xuyên, chặt chẽ với Viện kiểm sát địa phương và các cơ quan hữu quan, ngày 29/12/2017, Viện trưởng VKSND tối cao ký Quyết định số 565/QĐ-VKSTC ban hành Quy chế tiếp nhận, thu thập, quản lý, xử lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra VKSND tối cao thay thế Quy chế 116. Bên cạnh đó, Cơ quan điều tra đã ký Quy định phối hợp giữa Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao với 14 đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao… là những đơn vị có liên quan chặt chẽ trong việc phát hiện, cung cấp thông tin về tội phạm và hỗ trợ, phối hợp trong hoạt động điều tra. Mặt khác, đã đề xuất và được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi, bổ sung Luật Giám định tư pháp theo hướng bổ sung Phòng giám định kỹ thuật hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao là tổ chức giám định tư pháp công lập để phục vụ cho hoạt động điều tra, đáp ứng yêu cầu điều tra kỹ thuật số, giám định trong điều kiện công nghệ phát triển mạnh mẽ hiện nay.

Lễ ký Quy định phối hợp giữa Cơ quan điều tra VKSND tối cao với 11 đơn vị trong ngành Kiểm sát nhân dân: Vụ 6, Vụ 8, Vụ 11, Vụ 12, Vụ 16, Thanh tra VKSND tối cao, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Báo Bảo vệ pháp luật và 03 VKSND cấp cao (Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2018)

Đã hoàn thiện Đề tài khoa học cấp bộ “Thẩm quyền của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 và những giải pháp tổ chức thực hiện” và Đề án “Tăng cường năng lực của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao”, trong đó, đề xuất nhiều giải pháp đồng bộ (tổ chức bộ máy, cơ sở vật chất…); đặc biệt là việc đề xuất sửa đổi Thông tư chi đặc thù cho hoạt động điều tra, tạo các điều kiện về cơ chế, cơ sở vật chất, kinh phí để phát triển Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày càng toàn diện[5].

Việc xây dựng thể chế cho hoạt động điều tra bước đầu đã tạo nền tảng, khung pháp lý, góp phần bảo đảm hoạt động điều tra nền nếp, chuyên nghiệp, hiệu quả và có ý nghĩa lâu dài, từng bước xây dựng hệ thống lý luận chuyên sâu về công tác điều tra của ngành Kiểm sát nhân dân. Cùng với đó, đơn vị đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống trực tuyến, nối mạng nội bộ, thực hiện ghi âm, ghi hình trong hỏi cung, chỉ huy điều tra, xây dựng trang tin điện tử, mail công vụ điện tử…

Lễ ký Quy định phối hợp giữa Cơ quan điều tra VKSND tối cao với Vụ 9, Vụ 10 và Tạp chí Kiểm sát (Hà Nội, ngày 03 tháng 7 năm 2019)

Đơn vị đã chú trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo và tự đào tạo, phổ biến kỹ năng, kinh nghiệm điều tra để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác phát hiện, xử lý tội phạm thuộc thẩm quyền, nhất là đối với đội ngũ công chức trẻ, mới được tuyển dụng. Đã phối hợp Học viện Cảnh sát nhân dân, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội tổ chức các lớp Bồi dưỡng nghiệp vụ điều tra; đồng thời, chỉ đạo các phòng nghiệp vụ xây dựng chuyên đề nghiệp vụ chuyên sâu và tổ chức tập huấn trong nội bộ đơn vị… để nâng cao năng lực đội ngũ Điều tra viên, Cán bộ điều tra phục vụ công tác chuyên môn nghiệp vụ, yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi trong tình hình mới.

Từ năm 2018 đến nay, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã tiếp nhận, thu thập 9.228 thông tin về tội phạm, đã nghiên cứu giải quyết 9.035 thông tin (đạt 97,9%). Thụ lý giải quyết tổng số 530 tố giác, đã kết thúc kiểm tra, xác minh, chuyển hồ sơ đến VKSND tối cao kiểm sát theo quy định 483 tố giác, tin báo về tội phạm (đạt 91,1%). Khởi tố, thụ lý điều tra 156 vụ/181 bị can; trong đó: Tội phạm về tham nhũng trong hoạt động tư pháp: 70 vụ/93 bị can (chiếm 44,9%); Tội phạm về chức vụ trong hoạt động tư pháp: 18 vụ/ 16 bị can (chiếm 11,5%); Tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp: 47 vụ/64 bị can (chiếm 30,1%); Các tội phạm khác: 21 vụ/08 bị can (chiếm 13,5%). Đã kết thúc điều tra 135 vụ/161 bị can, đạt 86,5%. Việc khắc phục, thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt trong các vụ án tham nhũng, chức vụ được Cơ quan điều tra VKSND tối cao chú trọng thực hiện. Tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản bị thiệt hại, chiếm đoạt trong các vụ án tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp trung bình đạt 56,2%.

Riêng năm 2021, tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tăng 16,5% và vượt 2,9% so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra; tỷ lệ khám phá các tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng đạt 100% , vượt 10% so với chỉ tiêu của Quốc hội và tăng 37% so cùng kỳ 2020); hầu hết các vụ án nghiêm trọng, phức tạp đều khởi tố được bị can, số bị can năm 2021 tăng 69,4% so với cùng kỳ năm 2020.

Trong giai đoạn này, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã phát hiện, khởi tố, xử lý nhiều vụ án tham nhũng, chức vụ, phức tạp, xảy ra trong hoạt động tư pháp, được dư luận đồng tình, điển hình là các vụ án:

– Vụ Trần Thị Thanh Hòa, Kế toán trưởng Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ về tội “Tham ô tài sản”. Trong thời gian từ năm 2016 đến 2018, Trần Thị Thanh Hòa đã lợi dụng chức vụ được giao, lập khống chứng từ để chuyển tiền trong tài khoản tạm giữ chờ xử lý của Chi cục THADS thành phố Việt Trì mở tại Kho bạc và Ngân hàng vào các tài khoản của bạn bè và người thân trong gia đình, sau đó rút ra chiếm đoạt sử dụng cá nhân, với tổng số tiền là 5,653 tỷ đồng.

– Vụ án Trịnh Trọng Trung, Thủ kho vật chứng, Phó Văn phòng Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hà Nội về tội “Tham ô tài sản”. Sau khi tiếp nhận vật chứng (là thuốc lá điếu và xì gà do nước ngoài sản xuất, linh kiện điện tử, điện thoại di động…) trị giá hơn 16 tỷ đồng, Trịnh Trọng Trung đã tự ý lấy một số lượng đặc biệt lớn để sử dụng vào mục đích cá nhân và bán với số lượng lớn thu lời bất chính.

– Vụ bắt khẩn cấp Nguyễn Viết Dũng, Đội trưởng Đội điều tra tổng hợp Công an thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái về tội “Nhận hối lộ”. Trong quá trình giải quyết vụ việc liên quan đến ông Phạm Văn Nhu, trú tại tổ 9 phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, Nguyễn Viết Dũng đã nhận 70 triệu đồng từ ông Phạm Văn Nhu để không xử lý hình sự.

– Vụ án Giáp Văn Huyên, Thẩm phán TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang về tội “Nhận hối lộ”. Trong quá trình giải quyết vụ án Hoàng Văn Thuấn cùng đồng phạm về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, Giáp Văn Huyên có hành vi đòi và nhận 19 triệu đồng của bị cáo và hứa hẹn xét xử nhẹ tội cho bị cáo.

Điều tra viên Cơ quan Điều tra VKSND tối cao tống đạt quyết định khởi tố bị can Giáp Văn Huyên, nguyên Thẩm phán TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

– Vụ án Lê Thanh Lưu, Kiểm sát viên VKSND huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên về tội “Nhận hối lộ”. Trong quá trình giải quyết vụ án “Cố ý gây thương tích”, Lê Thanh Lưu có hành vi đòi và nhận 30 triệu đồng để giúp bị can được tại ngoại.

– Vụ án “Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội” xảy ra tại Cơ quan CSĐT và VKSND huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Thông qua công tác kiểm tra, rà soát thông tin một số vụ việc liên quan đến Nguyễn Xuân Đường ở Thái Bình có dấu hiệu bị bỏ lọt tội phạm, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã phát hiện, yêu cầu Viện trưởng VKSND tỉnh Thái Bình huỷ bỏ các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, đồng thời, Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã quyết định khởi tố 02 vụ án hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình để điều tra theo thẩm quyền.

– Vụ án “Làm sai lệch hồ sơ vụ việc, vụ án” xảy ra tại Cơ quan CSĐT Công an quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Cơ quan điều tra VKSND tối cao đã khởi tố vụ án, bắt tạm giam 06 bị can là cán bộ Công an quận Đồ Sơn, Tp. Hải Phòng do đã có hành vi tiêu hủy hồ sơ ban đầu trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và làm sai lệch hồ sơ để không xử lý các đối tượng theo quy định pháp luật…

Trong giai đoạn này, về biên chế cũng như cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao còn nhiều hạn chế (Quốc hội giao cho 185 biên chế nhưng thực hiện chủ trương tinh giản biên chế tại Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị thì biên chế hiện tại của Cơ quan điều tra VKSND tối cao được giao là 164); dịch bệnh Covid-19 xuất hiện và diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Cơ quan điều tra đã kịp thời ứng phó, khắc phục khó khăn, thích ứng linh hoạt với tình hình mới, đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, chỉ đạo điều hành, đảm bảo tiến độ công việc trong thời gian áp dụng các biện pháp giãn cách. Đã phát hiện, khởi tố nhiều vụ án xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp, đã phát hiện nhiều vụ oan, sai, bỏ lọt tội phạm, xử lý nghiêm minh, răn đe và phòng ngừa các hành vi tham nhũng, hối lộ, sai lệch hồ sơ. Chất lượng hoạt động của Cơ quan điều tra ngày càng được nâng cao, luôn bảo đảm thực hiện đúng pháp luật. Hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao thực sự trở thành công cụ sắc bén nhằm thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của VKSND, là thiết chế đặc thù nhằm kiểm soát quyền lực tư pháp, góp phần đảm bảo hoạt động tư pháp ngày càng trong sạch, hiệu quả.

Cơ quan điều tra VKSND tối cao tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Công Tâm, Công an huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Từ thực tiễn 60 năm xây dựng và phát triển của Cơ quan điều tra VKSND tối cao, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Một là, Sự tồn tại và phát triển của Cơ quan điều tra VKSND tối cao trong hệ thống VKSND là yêu cầu tất yếu, khách quan. Xuất phát từ lý luận về kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp, tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp nói riêng; trong 60 năm qua, mặc dù tổ chức bộ máy, biên chế, thẩm quyền của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao có nhiều thay đổi, nhưng từ khi thành lập đến nay, Cơ quan điều tra VKSND tối cao luôn là một trong 03 hệ thống Cơ quan điều tra chuyên trách trong bộ máy nhà nước ta. Đến nay, Cơ quan điều tra VKSND tối cao tiếp tục được giao trọng trách mới, được luật hóa và mở rộng thẩm quyền điều tra, tổ chức và hoạt động ngày càng được củng cố và tăng cường. Việc Cơ quan điều tra VKSND tối cao ngày càng được củng cố, tăng cường thể hiện sự quan tâm, tin tưởng của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, ngành Kiểm sát nhân dân và nhân dân đối với hoạt động điều tra của ngành Kiểm sát nhân dân.

Hai là, Với vị trí, ý nghĩa, vai trò là Cơ quan điều tra của ngành Kiểm sát nhân dân, từ khi thành lập đến nay, toàn bộ hoạt động của Cơ quan điều tra luôn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, sự phối hợp, hỗ trợ chặt chẽ của các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương. Hoạt động của Cơ quan điều tra trở thành công cụ sắc bén, đắc lực bảo đảm để VKSND các cấp thực hiện triệt để chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp. Hoạt động của Cơ quan điều tra VKSND tối cao góp phần quan trọng củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, các cơ quan tư pháp, trong đó có VKSND. Với đặc thù là hệ thống Cơ quan điều tra chuyên trách nhưng không có hệ thống “chân rết” hoặc mạng lưới cơ sở, đơn vị trinh sát nghiệp vụ… như các Cơ quan điều tra chuyên trách khác, để Cơ quan điều tra hoạt động có hiệu quả luôn phải có sự phối hợp, hỗ trợ chặt chẽ của các đơn vị trong Ngành để Cơ quan điều tra trở thành công cụ, sức mạnh của ngành Kiểm sát nhân dân.

Ba là, Hoạt động của Cơ quan điều tra VKSND tối cao có tác động, ảnh hưởng rất lớn và góp phần quan trọng, bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh của các cơ quan tư pháp. Đây là lĩnh vực đặc thù, rất khó khăn và phức tạp, nhưng có ảnh hưởng, tác động rất lớn đến lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp; có ý nghĩa quan trọng bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh của các cơ quan tư pháp. Đặc biệt, có tác dụng mạnh mẽ trong việc xử lý nghiêm minh và phòng ngừa vi phạm, tội phạm, nhất là các tội tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong hoạt động tư pháp hiện nay. Theo đó, luôn phải coi trọng chất lượng, luôn bảo đảm việc khởi tố, điều tra, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tuyệt đối không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Bên cạnh đó, hoạt động của Cơ quan điều tra ngành Kiểm sát nhân dân phải được thực hiện với phương châm kết hợp giữa đấu tranh và phòng ngừa tội phạm. Bên cạnh việc xử lý nghiêm minh các tội phạm, cần phải chú trọng tích cực kiến nghị với cơ quan tư pháp hữu quan xử lý triệt để vi phạm; đồng thời làm tốt công tác giáo dục, phòng ngừa, khắc phục kịp thời những sai phạm, sơ hở trong công tác quản lý cán bộ và trong hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp.

Bốn là, Hiệu quả hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có giải pháp tổng thể và đồng bộ. Tổng kết thực tiễn hoạt động của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong những năm qua cho thấy, hiệu quả hoạt động của Cơ quan điều tra phụ thuộc vào nhiều yếu tố và cần có giải pháp đồng bộ, trong đó: (1) Cần có hệ thống thể chế quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tạo sự chủ động và bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong hoạt động điều tra; đồng thời, là cơ sở xây dựng nền tảng lý luận và nhận thức thống nhất về hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân để bảo đảm hoạt động ngày càng chính quy, hiệu lực, hiệu quả. (2) Phải tổ chức bộ máy Cơ quan điều tra VKSND tối cao hợp lý, đủ mạnh, trong đó, đội ngũ Lãnh đạo, Điều tra viên, Cán bộ điều tra là nòng cốt và phải thực sự có phẩm chất, bản lĩnh, năng lực, trình độ và nghiệp vụ chuyên sâu, có tâm huyết, bản lĩnh, trách nhiệm, không tham nhũng, tiêu cực; không ngừng đổi mới phương pháp công tác, bám sát địa bàn, đối tượng hoạt động; có sự phối hợp hỗ trợ đắc lực của Viện kiểm sát nhân dân các cấp trong cung cấp thông tin và hỗ trợ hoạt động điều tra. (3) Phải có cơ chế phù hợp với tính chất điều tra đặc thù, nhất là các biện pháp nghiệp vụ, trang thiết bị, phương tiện kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác phù hợp để phục vụ có hiệu quả hoạt động điều tra.

Năm là, Điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp là một hoạt động điều tra đặc thù, ngoài những đặc điểm như của các Cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra ngành Kiểm sát nhân sân còn có những đặc điểm riêng về chủ thể tội phạm và hành vi phạm tội; với mục tiêu của hoạt động điều tra là bảo đảm hỗ trợ để Viện kiểm sát làm tốt chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp. Do đó, cần phải có những cơ chế, chính sách đặc biệt về quy mô tổ chức, lực lượng, kinh phí, trang thiết bị… mới đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ điều tra trong hệ thống VKSND.

Trước yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, yêu cầu cải cách tư pháp qua từng giai đoạn lịch sử thì mô hình tổ chức và thẩm quyền của Cơ quan điều tra ngành Kiểm sát nhân dân có những thay đổi nhất định. Kết quả công tác của Cơ quan điều tra ngành Kiểm sát nhân dân đã góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với ngành Kiểm sát nhân dân; tạo điều kiện cho VKSND thực hiện tốt hơn chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp và đáp ứng với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới. Để Cơ quan điều tra VKSND thực hiện tốt hơn nữa thẩm quyền điều tra vụ án hình sự theo quy định của các đạo luật mới; đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong tình hình mới, Cơ quan điều tra đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp như sau:

Thứ nhất, Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về hình sự, tố tụng tư pháp, về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có Cơ quan điều tra của VKSND tối cao để bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp và Hiến pháp năm 2013 trên cơ sở tiến hành tổng kết căn bản, toàn diện thực tiễn thi hành các luật về tư pháp nói chung, pháp luật về tổ chức và hoạt động Cơ quan điều tra nói riêng; từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung để đổi mới về tổ chức và hoạt động, tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Cơ quan điều tra nói chung, Cơ quan điều tra VKSND tối cao nói riêng.

Thứ hai, Trên cơ sở quy định của pháp luật, theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành trung ương khoá XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả thì việc xây dựng mô hình của Cơ quan điều tra VKSND tối cao từng bước chuyên nghiệp, hiện đại đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp quan trọng trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Để thực hiện điều này cần:

Một là, sớm kiện toàn tổ chức, bộ máy theo hướng hình thành Cơ quan điều tra chuyên trách, ngoài các phòng điều tra tố tụng, cần có đơn vị (bộ phận, phòng) trinh sát nghiệp vụ, các đơn vị (bộ phận, phòng) thực hiện các hoạt động nghiệp vụ đặc thù phục vụ cho hoạt động phát hiện tội phạm và điều tra vụ án, nhất là các hoạt động như: điều tra kỹ thuật số, phối hợp thực hiện điều tra tố tụng đặc biệt… Đây vừa là xu hướng chung, phổ biến trong thời đại kỹ thuật số; vừa là yêu cầu cấp bách, rất cần thiết đối với đặc thù đấu tranh tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra hiện nay và trong những năm tới.

Hai là, đổi mới phương pháp thu thập, quản lý thông tin về tội phạm: tập trung xây dựng mạng lưới cơ sở, để chủ động theo dõi, nắm bắt thông tin về tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tham nhũng, chức vụ trong hoạt động tư pháp xảy ra trên toàn quốc; nâng cao trách nhiệm cung cấp thông tin về tội phạm trong nội bộ ngành Kiểm sát nhân dân và có cơ chế khuyến khích, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng để trao đổi nguồn thông tin. Bên cạnh việc duy trì hòm thư tố giác tội phạm ở các trụ sở Cơ quan điều tra, VKS các cấp, tiếp tục duy trì trang web, hộp thư điện tử, số điện thoại… để tiếp nhận các thông tin về tội phạm.

Ba là, đổi mới phương pháp điều tra, phương pháp kiểm tra, xác minh theo hướng nâng cao chất lượng điều tra của các phòng điều tra tội phạm tại các địa bàn chuyên sâu từng lĩnh vực hoạt động tư pháp, như: điều tra các tội phạm xảy ra trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự và các hoạt động bổ trợ tư pháp khác. Chú trọng phát hiện, khởi tố, điều tra, xử lý các vụ án tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp.

Bốn là, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường kiểm tra, thanh tra nội bộ và phát huy có hiệu quả cơ chế kiểm tra, giám sát từ bên ngoài đối với hoạt động tư pháp nói chung, hoạt động điều tra nói riêng; đảm bảo cán bộ, công chức tư pháp, trước hết là các chức danh tư pháp mà cụ thể là các Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải thực sự trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, am hiểu về kinh tế, xã hội, liêm chính, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Năm là, chú trọng công tác phòng ngừa tội phạm, tích cực phát hiện nguyên nhân, điều kiện phạm tội, những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý để kiến nghị với các cơ quan tư pháp xử lý và phòng ngừa vi phạm, tội phạm. Hoạt động phòng ngừa không chỉ dừng ở những vụ, việc cụ thể mà cần tổng hợp để có những kiến nghị chung về những vi phạm, thiếu sót, sơ hở trong công tác quản lý nhà nước có tính hệ thống, tính phổ biến, chú trọng phát hiện và kiến nghị hoàn thiện pháp luật; sửa đổi, bổ sung những cơ chế quản lý không còn phù hợp…

Thứ ba, Để Cơ quan điều tra hoạt động có hiệu quả luôn phải có sự phối hợp, hỗ trợ chặt chẽ của các đơn vị trong Ngành để Cơ quan điều tra trở thành công cụ, sức mạnh của ngành Kiểm sát nhân dân. Vì vậy, việc tăng cường mối quan hệ phối hợp, chế ước giữa Cơ quan điều tra VKSND tối cao với đơn vị nghiệp vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thuộc VKSND tối cao, bảo đảm việc phát hiện, khởi tố, điều tra các vụ án của Cơ quan điều tra có sự phối hợp tích cực; đồng thời có sự kiểm sát chặt chẽ theo quy định của pháp luật; bảo đảm tăng cường sự phối hợp với cơ quan tiến hành tố tụng các cấp, trong đó có hệ thống Cơ quan điều tra khác (trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân) là hết sức cần thiết.

Thứ tư, Nâng cao trình độ, kỹ năng nghiệp vụ điều tra cho Điều tra viên, cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao. Hoạt động điều tra tội phạm là hoạt động mang tính đặc thù, việc nâng cao trình độ và kỹ năng nghiệp vụ điều tra cho Điều tra viên, cán bộ điều tra sẽ góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án, vụ việc. Việc đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ điều tra cho Điều tra viên, cán bộ điều tra cần bảo đảm về đầy đủ, toàn diện về số lượng cán bộ tham gia hoạt động điều tra, có chất lượng, thiết thực về nội dung, hiệu quả về kinh phí; trong đó tập trung tổ chức hội nghị tập huấn, xây dựng chương trình và mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ điều tra; tránh đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn ồ ạt hoặc dàn trải, thiếu lựa chọn gây tốn kém mà không đạt chất lượng; tránh việc thực hiện hình thức, xa rời thực tiễn. Tăng cường hoạt động sơ kết, tổng kết đánh giá kinh nghiệm điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao; đồng thời chú trọng vào công tác tự đào tạo, tự bồi dưỡng.

Đoàn cán bộ Viện kiểm sát nhân dân tham gia Lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu về phòng chống tham nhũng, rửa tiền và tội phạm mạng gặp mặt đồng chí Nguyễn Tiến Thức – Đại sứ Việt Nam tại Hungary (Hungary, tháng 10 năm 2020)

Thứ năm, Tăng cường các điều kiện bảo đảm phục vụ hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra VKSND tối cao. Theo đó, bảo đảm kinh phí (chi phí công tác, chi phí tố tụng) và cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, phương tiện làm việc để nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra tội phạm. Cần quan tâm, tăng cường các điều kiện bảo đảm cho hoạt động điều tra của Điều tra viên, Cán bộ điều tra theo hướng từng bước trang bị đầy đủ và hiện đại những phương tiện thiết yếu cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra, bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dụng… Về lâu dài, Cơ quan điều tra VKSND tối cao cần được đầu tư đầy đủ các trụ sở làm việc, bảo đảm có đủ các điều kiện cần thiết phục vụ tốt cho hoạt động điều tra đặc thù.

Thứ sáu, Tăng cường hợp tác quốc tế, nhất là với VKS/Viện công tố của một số nước tiên tiến, phát triển trong công tác đào tạo, bồi dưỡng về điều tra kỹ thuật số, giám định kỹ thuật hình sự… để nâng cao trình độ điều tra, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, đấu tranh phòng, chống tội phạm và xây dựng pháp quyền xã hội chủ nghĩa./.

————-

[1] Trong đó có 194 kiến nghị gửi cơ quan Công an các cấp, 90 kiến nghị gửi cơ quan Thi hành án dân sự các cấp, 105 kiến nghị gửi Tòa án các cấp, 58 kiến nghị gửi Viện kiểm sát địa phương và 18 kiến nghị gửi ngành khác

[2] Điều 163 Bộ luật TTHS năm 2015; Điều 30 Luật TCCQĐTHS năm 2015

[3] Ban hành kèm theo Quyết định số 203/QĐ-VKSTC ngày 05/6/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

[4] Ban hành kèm theo Quyết định số 202/QĐ-VKSTC ngày 05/6/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

[5] Thông tư số 1018/2020/TT-BTC ngày 18/9/2020 của Bộ Tài chính quy định lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí hoạt động điều tra trong ngành KSND

Một số hình ảnh hoạt động của Cơ quan điều tra VKSND tối cao:

Đồng chí Lê Minh Trí, Ủy viên Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chúc mừng Cơ quan điều tra VKSND tối cao nhân kỷ niệm 55 năm ngày truyền thống lực lượng điều tra ngành Kiểm sát nhân dân (18/4/1962 – 18/4/2017).
Đồng chí Lê Minh Trí, Uỷ viên Trung ương đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Viện trưởng VKSND tối cao trao Huân chương Lao động hạng Nhì cho Cơ quan điều tra VKSND tối cao tại Hội nghị triển khai công tác năm 2022 của Cơ quan điều tra VKSND tối cao (Hà Nội, ngày 17 tháng 01 năm 2022)
Đồng chí Nguyễn Huy Tiến, Bí thư Đảng ủy, Phó Viện trưởng Thường trực VKSND tối cao chúc mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ Cơ quan điều tra lần thứ III nhiệm kỳ 2020 – 2025 (Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm 2020)
Đoàn thanh niên Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với Đoàn thanh niên Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội tổ chức giao hữu bóng đá chào mừng kỷ niệm 57 năm ngày thành lập Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao (18/4/1962 – 18/4/2019) và kỷ niệm 49 năm ngày thành lập Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (25/4/1970 – 25/4/2019). Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2019.
Đoàn thanh niên Cơ quan điều tra VKSND tối cao phối hợp với Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương tổ chức ngày hội hiến máu tình nguyện vì cộng đồng với chủ đề “Giọt hồng yêu thương” (Hà Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2019)

Chưa có bình luận nào

Tin khác đã đăng