Một số quy định mới trong Chương XXIII – Các tội phạm về chức vụ, Bộ luật hình sự năm 2015



Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 được Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 (BLHS năm 2015) quy định Chương XXIII, Các tội phạm về chức vụ, tuy không bổ sung điều luật, tội danh mới, nhưng cấu thành của một số điều luật đã được quy định cụ thể hơn, chặt chẽ hơn.

Theo Luật số 12/2017/QH14 được Quốc hội Khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, trong đó Mục 1, Chương XXIII – Tội phạm tham nhũng giữ nguyên so với BLHS năm 2015, nhưng Mục 2, Chương XXIII – Tội phạm khác về chức vụ đã sửa đổi, bổ sung 03 Điều luật: Điều 360 (Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 363 (Tội Đào nhiệm); Điều 366 (Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi).

Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) năm 2014 (Điều 20), Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 (Điều 163) và Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015 (Điều 30) thì Cơ quan điều tra VKSND tối cao có thẩm quyền: Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp khi tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân. Như vậy, ngoài thẩm quyền điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, Cơ quan điều tra VKSND tối cao có thẩm quyền điều tra tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp (Chương XXIII – Các tội phạm về chức vụ).

So với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 vẫn giữ nguyên 14 điều luật, tuy nhiên, đã có những sửa đổi cơ bản như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung tên chương, mục  

BLHS năm 1999 quy định tại Chương XXI: Mục A – Các tội phạm về tham nhũng; Mục B – Tội phạm chức vụ khác; BLHS năm 2015 quy định tại Chương XXIII: Mục 1 – Tội phạm tham nhũng; Mục 2 – Các tội phạm khác về chức vụ.

2. Sửa đổi, bổ sung khái niệm, đặc điểm tội phạm

Một là, mở rộng khái niệm chủ thể: Tội phạm về chức vụ bao gồm cả trong khi thi hành công vụ và nhiệm vụ (Điều 352). Như vậy, cần lưu ý ngoài việc thực hiện công vụ, thì những người được giao nhiệm vụ cũng có thể là chủ thể của tội này.

Hai là, đối với nhóm các tội: Nhận hối lộ, Đưa hối lộ, Làm môi giới hối lộ, Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi, Lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ có một số bổ sung sau đây:

– Bổ sung quy định “của hối lộ” và “lợi ích nhận được” chặt chẽ hơn, theo đó của hối lộ có thể là “bất kì lợi ích nào”, bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất.

– Đối với Tội nhận hối lộ (Điều 354), hành vi nhận của hối lộ được quy định cụ thể hơn, có thể nhận cho chính bản thân mình hay cho người, tổ chức khác đã cấu thành tội này.

– Đối với Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (Điều 358), bổ sung hành vi “đòi bất kì lợi ích nào”. Tức là có thể xử lý hành vi phạm tội ngay từ khi người có chức vụ, quyền hạn có hành vi nhũng nhiễu, gợi ý, đòi hỏi nhận bất kì lợi ích nào (trước đây chỉ quy định hành vi nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác).

– Đối với Tội đưa hối lộ (Điều 364) hành vi đưa hối lộ có thể được thực hiện trực tiếp hoặc qua trung gian và nếu chứng minh được hành vi sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn” đã cấu thành Tội đưa hối lộ.

– Đối với các Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356), Lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Điều 357), ngoài hành vi gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân như quy định cũ, cấu thành tội phạm mới bổ sung quy định gây thiệt hại về tài sản.

Ba là, điều chỉnh khung hình phạt theo hướng thu hẹp sự chênh lệch giữa mức thấp nhất và mức cao nhất của các khung hình phạt đối với một số tội cho phù hợp thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tránh tùy tiện và thiếu thống nhất trong áp dụng hình phạt.

Bốn là, tăng mức giá trị tài sản hối lộ, bị chiếm đoạt, trục lợi và tăng mức phạt tiền bổ sung. Đây là điểm mới cần chú ý để áp dụng ngay, vì có lợi cho người phạm tội so với BLHS năm 1999.

Năm là, cụ thể hóa các tình tiết định tính, định lượng thành các tình tiết xác định cụ thể số lượng, giá trị vật chất (tiền, tài sản) bị chiếm đoạt hoặc thiệt hại; xác định cụ thể những thiệt hại về tính mạng và sức khỏe con người (tỷ lệ tổn thương cơ thể, tổn thương về tâm thần); đồng thời thể hiện rõ những ảnh hưởng xấu, tổn hại về chính trị, kinh tế, an ninh trật tự, an toàn xã hội…

 3. Những nội dung mới cơ bản trong một số điều luật cụ thể

 3.1. Tội nhận hối lộ (Điều 354)

 Một là, sửa đổi, bổ sung cấu thành cơ bản của tội nhận hối lộ: Điều 354 BLHS 2015 vẫn giữ cấu thành cơ bản của tội nhận hối lộ như cũ nhưng đã bổ sung thêm về mục đích của người nhận hối lộ “cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác”. Của hối lộ là bất kỳ lợi ích nào, gồm lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất.

Hai là, tăng mức giá trị của hối lộ so với quy định của BLHS năm 1999: (1) Tại Khoản 1: Từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng (trước đây quy định từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng); (2) Tại Khoản 2: Từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (trước đây quy định từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng); (3) Tại Khoản 3: Từ năm trăm triệu đồng đến một tỉ đồng (trước đây quy định từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng); (4) Tại Khoản 4: Từ một tỉ đồng trở lên (trước đây quy định từ từ ba trăm triệu đồng trở lên).

Đây là một trong những quy định có lợi đối với người phạm tội, phải được áp dụng ngay, trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực.

Ba là, cụ thể hóa các tình tiết định tính của Tội nhận hối lộ: Bộ luật hình sự 2015 đã bỏ tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” ở Khoản 1 và cụ thể hóa các tình tiết định tính “gây hậu quả nghiêm trọng khác”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng khác”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác”.

3.2. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 360)

Một là, đã cụ thể tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” tại cấu thành cơ bản (khoản 1) thành: (a) Làm chết người; (b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; (c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; (d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Đây là điểm mới rất quan trọng, nếu như trước đây tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng là do Cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá, xác định, nhưng theo quy định mới thì chỉ khi có một trong các hậu quả nêu trên mới cấu thành tội phạm. Đây cũng là điểm mới có lợi cho người phạm tội cần được áp dụng ngay, trước khi BLHS năm 2015 có hiệu lực.

Hai là, BLHS 2015 đã cụ thể hóa trường hợp gây ra “hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” và tách thành 02 khung hình phạt riêng nhằm thu hẹp sự chênh lệch giữa mức thấp nhất và mức cao nhất của các khung hình phạt, đảm bảo tránh tùy tiện và thiếu thống nhất trong áp dụng. Theo đó, khoản 2 và khoản 3 Điều 360 đã sửa đổi, bổ sung như sau:

(1) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm (khoản 2): Làm chết 02 người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

(2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm (khoản 3): Làm chết 03 người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

3.3. Tội Lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn đế trục lợi (Điều 366)

Một là, về cấu thành cơ bản: Tài sản trục lợi là bất kì lợi ích nào, bao gồm cả lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất thay vì chỉ quy định là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác như BLHS năm 1999. BLHS 2015 bỏ quy định “dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng” và “đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm”. Đồng thời, giá trị tài sản bị trục lợi quy định tăng so với BLHS 1999: “Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng” (trước đây quy định 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”.

Hai là, về khung hình phạt, BLHS 1999 có 02 khung hình phạt từ 1 đến 5 năm và từ 3 đến 10 năm. BLHS 2015 đã điều chỉnh khung hình phạt, thu hẹp sự chênh lệch giữa mức cao nhất và mức thấp nhất trong một khung hình phạt. Theo đó, Điều 366 có 03 khung hình phạt: (1) Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; (2) Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm; (3) phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Ba là, cụ thể hóa mức phạt tiền đối với hình phạt bổ sung trước đây quy định từ 01 đến 05 lần số tiền hoặc giá trị tài sản đã trục lợi, Luật số 12/2017/QH14 quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”./.

Thạc sĩ, Nguyễn Thị Hiển, ĐTV sơ cấp
Cơ quan điều tra VKSNDTC

Chưa có bình luận nào

Tin khác đã đăng