Những điểm mới về tội “Bức cung”, “Dùng nhục hình” quy định tại Điều 374, 373 Bộ luật hình sự năm 2015



Tội "Bức cung" và "Dùng nhục hình" trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có nhiều điểm sửa đổi, bổ sung cần lưu ý như sau:

  1. Những điểm mới về tội bức cung

a) Điều chỉnh khung hình phạt

Tội bức cung được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 tại Điều 299 với 4 khoản (Khoản 1 quy định tình tiết định tội; Khoản 2,3 quy định tình tiết định khung tăng nặng; Khoản 4 quy định hình phạt bổ sung).

BLHS năm 2015 quy định Tội bức cung tại Điều 374 với 5 khoản (Khoản 1 quy định tình tiết định tội; Khoản 2, 3, 4 quy định tình tiết định khung tăng nặng; Khoản 5 quy định hình phạt bổ sung). Trong đó, Khoản 3 Điều 374 BLHS năm 2015 nặng hơn (phạt tù từ 07 năm đến 12 năm) so với Khoản 3 Điều 299 BLHS năm 1999 (phạt tù từ 05 năm đến 10 năm). Ngoài ra, BLHS năm 2015 đã bổ sung mới khung hình phạt tại Khoản 4 Điều 374 với mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. Điểm mới này thể hiện tính răn đe nghiêm khắc hơn của pháp luật hình sự đối với tội phạm bức cung, nâng cao ý thức tuân thủ trình tự, thủ tục tố tụng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp 2013.

b) Về cấu thành cơ bản 

Thứ nhất, BLHS năm 2015 sử dụng thuật ngữ “trong hoạt động tố tụng” thay thế cho thuật ngữ tiến hành điều tra, truy tố, xét xử”. Như vậy, diện đối tượng phạm tội bức cung đã được mở rộng hơn, bởi lẽ “người nào trong hoạt động tố tụng” đã bao trùm “người nào tiến hành điều tra, truy tố, xét xử”. Điểm mới này đã khắc phục thiếu sót trong thực tiễn, phù hợp với quy định của Bộ luật TTHS 2015 trong những trường hợp người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng nhưng không phải là người tiến hành điều tra, truy tố, xét xử. Cơ quan điều tra VKSND tối cao cần chú ý điểm mới này để xác định đúng đối tượng thuộc thẩm quyền điều tra. Ví dụ: Đối tượng là Công an cấp xã, phường, thị trấn phạm tội bức cung khi tiếp nhận người đầu thú, tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm, lấy lời khai ban đầu…

Thứ hai, BLHS 2015 sử dụng thuật ngữ “người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung” thay thế cho thuật ngữ “người bị thẩm vấn”, phù hợp với nội dung quy định của Bộ luật TTHS về hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, bị hại…

Thứ ba, theo quy định Điều 299 BLHS 1999, chỉ khi thực hiện hành vi ép buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng mới cấu thành tội phạm bức cung. Nhưng theo quy định tại Điều 374 BLHS 2015 thì chỉ cần thực hiện hành vi ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc thì đã cấu thành tội bức cung mà không bắt buộc thông tin đó là sai sự thật. Đây là điểm mới rất quan trọng cần được quán triệt nắm vững trong nhận thức. Điểm mới này nhằm đảm bảo quyền con người và hạn chế việc bức cung của những người có thẩm quyền tố tụng.

c) Cụ thể hóa các tình tiết định khung

BLHS 2015 đã quy định cụ thể, rõ ràng các trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự của Tội bức cung tại các Khoản 2,3,4 Điều 374, thay thế cho các quy định mang tính định tính trong BLHS 1999 “Gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Cụ thể như sau:

Khoản 2 Điều 374 BLHS 2015 quy định phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Phạm tội 02 lần trở lên; b) Đối với 02 người trở lên; c) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; d) Dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung; đ) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; e) Dẫn đến làm sai lệch kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; g) Ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai sai sự thật.

Như vậy, BLHS 1999 quy định hành vi “buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật” là dấu hiệu định tội của Tội bức cung thì BLHS 2015 đã quy định hành vi “ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai sai sự thật” là tình tiết định khung tăng nặng tại Điểm g Khoản 2 Điều 374.

Mặt khác, BLHS 2015 quy định hành vi “dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung” là tình tiết định khung tăng nặng của Tội bức cung tại Điểm d Khoản 2 Điều 374. Tuy nhiên đây cũng là những hành vi được mô tả trong cấu thành cơ bản của Tội dùng nhục hình. Do đó, cần xác định mục đích của hành vi trên để phân biệt trường hợp phạm tội “dùng nhục hình” với trường hợp phạm tội “bức cung” mà dùng nhục hình (Điểm d Khoản 2 Điều 374).

Khoản 3 Điều 374 BLHS 2015 quy định phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm: a) Làm người bị bức cung tự sát; b) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.

Khoản 4 Điều 374 BLHS 2015 quy định phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a) Làm người bị bức cung chết; b) Dẫn đến làm oan người vô tội; c) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

d) Về hình phạt bổ sung

So với BLHS 1999 thì Khoản 5 Điều 374 BLHS 2015 đã quy định hình phạt bổ sung đối với Tội bức cung với điểm mới là cụm từ “cấm hành nghề”. Cụ thể: “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm”.

Xét thấy, quy định về hình phạt bổ sung đối với Tội bức cung trong cả hai điều luật như trên là chưa hoàn toàn chính xác, bởi lẽ hình phạt bổ sung trong BLHS được quy định đầy đủ là “Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định”. 

2. Những điểm mới về tội dùng nhục hình.  

a) Điều chỉnh khung hình phạt BLHS 1999 quy định Tội dùng nhục hình tại Điều 298 với 4  khoản (Khoản 1 quy định tình tiết định tội; Khoản 2,3 quy định tình tiết định khung tăng nặng; Khoản 4 quy định hình phạt bổ sung). Khoản 3 Điều 373 BLHS 2015 tăng nặng hơn (phạt tù từ 07 năm đến 12 năm) so với khung hình phạt quy định tại Khoản 3 Điều 298 BLHS 1999 (phạt tù từ 05 năm đến 12 năm).

BLHS 2015 đã bổ sung mới khung hình phạt tại Khoản 4 Điều 373 với mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân trong trường hợp hành vi phạm tội làm người bị nhục hình chết. Đây là quy định mới thể hiện quan điểm nghiêm khắc hơn của pháp luật hình sự đối với tội dùng nhục hình.

b) Về cấu thành cơ bản

BLHS 2015 đã mở rộng diện đối tượng phạm tội dùng nhục hình so với BLHS 1999, ngoài những người trong hoạt động tố tụng, thi hành án thì còn có người thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (các biện pháp tư pháp) cũng là đối tượng phạm tội dùng nhục hình.

BLHS 2015 bổ sung hành vi “đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào” là dấu hiệu định tội trong cấu thành cơ bản của Tội dùng nhục hình.

c) Cụ thể hóa các tình tiết định khung

BLHS 2015 đã quy định cụ thể các trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự của Tội dùng nhục hình trong các Khoản 2, 3, 4 Điều 373, thay thế cho các quy định mang tính định tính trong BLHS 1999 “Gây hậu quả nghiêm trọng”, “Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”. Cụ thể:

Khoản 2 Điều 298 BLHS 1999 quy định “Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Trong khi đó, Khoản 2 Điều 373 BLHS 2015 đã quy định cụ thể phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Phạm tội 02 lần trở lên; b) Đối với 02 người trở lên; c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; đ) Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khoẻ cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%.

Khoản 3 Điều 298 BLHS 1999 quy định “Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm”. Khoản 3 Điều 373 BLHS 2015 đã quy định cụ thể phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm: a) Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khoẻ cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; b) Làm người bị nhục hình tự sát.

Khoản 4 Điều 373 BLHS 2015 quy định phạm tội làm người bị nhục hình chết thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân./.

Nguyễn Đức Việt, Chuyên viên Phòng 2

Cơ quan điều tra VKSND tối cao

 

Chưa có bình luận nào

Tin khác đã đăng