Những điểm mới về tội “Thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn”



Thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn quy định tại Điều 376 BLHS 2015 so với Điều 301 BLHS 1999 có những điểm mới như sau:

1. Sửa đổi tên điều luật

BLHS 1999 quy định “Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn”. BLHS 2015 quy định “Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn”

Như vậy, Điều 376 BLHS 2015 đã sửa đổi tên điều luật và tội danh theo hướng: bổ sung 2 đối tượng: “người bị bắt” và “người đang chấp hành án phạt tù”; đồng thời, dùng khái niệm “người bị tạm giữ, tạm giam” để đảm bảo tính thống nhất, chính xác.

2. Điều chỉnh cấu thành cơ bản của tội phạm

So sánh Khoản 1 Điều 301 BLHS 1999 và Khoản 1 Điều 376 BLHS 2015 nhận thấy cấu thành cơ bản của tội này có những điểm mới sau đây:

Một là, bổ sung “người bị bắt” và “người đang chấp hành án phạt tù” là 2 đối tượng của tội phạm này và thay đối tượng bị “dẫn giải” bằng “áp giải”.

Hai là, BLHS 2015 bổ sung cụm từ “người nào được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, canh gác, áp giải” so với luật cũ là “người nào trực tiếp quản lý, canh gác, dẫn giải”. Đây là những điểm mới rất quan trọng cần được chú ý trong nhận thức. Người phạm tội phải là người được giao trách nhiệm trực tiếp.

Ba là, Khoản 1 Điều 301 BLHS 1999 chỉ quy định là “gây hậu quả nghiêm trọng”đã cấu thành tội phạm. Nhưng Khoản 1 Điều 376 BLHS năm 2015 quy định để người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng trốn thuộc một trong các trường hợp sau đây: (a) Làm vụ án bị tạm đình chỉ; (b) Người bỏ trốn trả thù người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; (c) Người bỏ trốn tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.

Như vậy, nếu để người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng trốn, phải thỏa mãn 1 trong 3 tình tiết nêu trên mới phạm tội. Đây là một điểm mới có lợi cho người phạm tội, cần được áp dụng ngay khi BLHS năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này phải điều tra xem đối tượng trốn có làm vụ án tạm đình chỉ hoặc sau khi bỏ trốn có phạm tội mới hoặc trả thù không mới xác định được người thiếu trách nhiệm có phạm tội hay không.

3. Về các tình tiết định khung và mức hình phạt

So sánh hình phạt giữa BLHS năm 1999 với BLHS năm 2015 có những điểm mới về tình tiết định khung và mức hình phạt như sau:

Khoản 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, tăng mức cải tạo không giam giữ (luật cũ phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm) đối với một trong các trường hợp sau: (a) Làm vụ án bị tạm đình chỉ; (b) Người bỏ trốn trả thù người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng; (c) Người bỏ trốn tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng .

Khoản 2: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm (giữ nguyên), đối với một trong các trường hợp sau: (a) Làm vụ án bị đình chỉ; (b) Người bỏ trốn tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng; (c) Để từ 02 người đến 05 người bỏ trốn; (d) Để người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng bỏ trốn; (đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Khoản 3: Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (giữ nguyên), đối với một trong các trường hợp sau: (a) Người bỏ trốn tiếp tục thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; (b) Để 06 người trở lên bỏ trốn; (c) Để người thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng bỏ trốn.

Khoản 4. Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm (giữ nguyên).

4. Một số vấn đề cần chú ý

Như vậy, khi giải quyết đối với tội “Thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn” cần chú ý một số nội dung sau:

4.1. Về hậu quả của tội phạm

Trước hết, phải xác định đối tượng trốn trong vụ án có đồng phạm không, khi đối tượng trốn có dẫn đến vụ án phải tạm đình chỉ, đình chỉ hay không? Đồng thời, phải xác minh làm rõ đối tượng trốn có trả thù người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc tiếp tục phạm tội không, nếu tiếp tục phạm tội thì phạm tội gì (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng). Như vậy, trong trường hợp chưa bắt được đối tượng trốn thì có thể phải tạm dừng việc kiểm tra, xác minh hoặc tạm đình chỉ mới có căn cứ để xác định được tình tiết này.

4.2. Về đối tượng trốn

Phải kiểm tra, làm rõ đối tượng trốn là người bị buộc tội, người đang chấp hành án phạt tù về loại tội gì (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng) và số lượng đối tượng trốn là bao nhiêu?

4.3. Về chủ thể của tội phạm
Điều luật mới quy định rõ “người nào được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, canh gác, áp giải người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù. Do vậy, phải làm rõ các quy định của pháp luật về trách nhiệm của từng vị trí: quản lý, canh gác, áp giải để xác định có phạm tội không./.

Nguyễn Trọng Tùng, P2, Cơ quan điều tra

 

Chưa có bình luận nào

Tin khác đã đăng