Trao đổi về một số khó khăn trong áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015



Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018, sau hơn một năm triển khai thực hiện, ngành Kiểm sát đã quan tâm, mở nhiều hội nghị, hội thảo để trao đổi, thảo luận, giải đáp những khó khăn vướng mắc trong áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đồng thời phối hợp với liên ngành trung ương ban hành các văn bản hướng dẫn như Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 04/2018)…, đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động phối hợp giữa các Cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện các quy định trong thực tiễn được chính xác, hiệu quả. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn công tác, tác giả bài viếtnhận thấy còn tồn tại một số khó khăn và đề xuất các giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, trong trường hợp Cơ quan điều tra ra Quyết định tạm giữ, sau đó có căn cứ thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giữ sang cấm đi khỏi nơi cư trú. Theo quy định tại khoản 4 Điều 117 và khoản 2 Điều 125 BLTTHS thì Quyết định tạm giữ do Cơ quan điều tra ban hành và nếu không có Quyết định hủy bỏ của Viện kiểm sát thì đương nhiên có hiệu lực pháp luật (Viện kiểm sát không phê chuẩn Quyết định tạmgiữ) nên việc thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong trường hợp này do Cơ quan điều tra quyết định. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 165 BLTTHS, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn: Hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra. Như vậy, BLTTHS và Thông tư liên tịch số 04/2018 còn chưa quy định rõ cơ chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình khi kiểm sát tính có căn cứ, tính hợp pháp của quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ của Cơ quan điều tra trong trường hợp này. Trên thực tế, qua việc thực hiệnchức năng kiểm sát tạm giữ, Viện kiểm sát có thể biết được Cơ quan điều tra đãra Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tuy nhiên, nếu không có sự phối hợp tốt thì không kiểm sát ngay được các tài liệu, căn cứ để Cơ quan điều tra ban hành quyết định đó. Vì vậy, đề xuất cần tiếp tục nghiên cứu, ban hành hướng dẫn quy định rõ: Cơ quan điều tra phải có văn bản thống nhất quan điểm thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ với Viện kiểm sát trước khi ban hành, quy định cụ thể thời hạn gửi Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tài liệu sử dụng làm căn cứ thay thế biện pháp ngăn chặn đến Viện kiểm sát. Trườnghợp phát hiện thấy việc thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ của Cơ quan điều tra không có căn cứ, trái pháp luật, Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn của Cơ quan điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ.

Thứ hai, Điều 197 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về trình tự, thủ tục thi hành Lệnh thu giữ thư tín, điện tín tại các tổ chức viễn thông, đồng thời Nghị định số 49/2017 ngày 24/4/2017 của Chính phủ đã quy định quản lý chặt chẽ hơn thông tin cá nhân của các thuê bao điện thoại di động nên đã tạo cơ sở pháp luật đồng bộ, hiệu quả để đấu tranh với các loại tội phạm sử dụng điện thoại di động vào mục đích thực hiện tội phạm, nhất là các tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự còn chưa cụ thể, chưa quy định rõ thời hạn trả lời,cung cấp thông tin, trách nhiệm của tổ chức viễn thông trong việc trả lời, cung cấp thông tin, chế tài áp dụng đối với các tổ chức viễn thông trong trường hợp chậm cung cấp hoặc không cung cấp thông tin khi nhận được Lệnh thu giữ thư tín, điện tín của Cơ quan điều tra và Quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát. Từ đó dẫn đến khó khăn trong việc điều tra, mở rộng án, việc giải quyết vụ án bị kéo dài và không triệt để. Thực tế, cơ quan tiến hành tố tụng đã ban hành các công văn yêu cầu đối với tổ chức viễn thông, tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng có kết quả. Vì vậy, khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra buộc phải kết luận điều tra và tách nội dung này ra chờ kết quả để làm rõ, xử lý sau, mặc dù vậy, đây chỉ là biện pháp “tình thế”. Đề xuất thời gian tới cần có hướng dẫn cụ thể về thời hạn trả lời, cung cấp thông tin, trách nhiệm trả lời, cung cấp thông tin và chế tài xử lý đối với các tổ chức viễn thông có vi phạm nêu trên.

Thứ ba, Điều34 Thông tư liên tịch số 04/2018 quy định Điều tra viên có thể chuyển, giao nhận biên bản, tài liệu cho Viện kiểm sát (trong trường hợp theo quy định tại khoản 5 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự) bằng hình thức Fax, không thuộc các trường hợp chuyển, giao, gửi văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 137 Bộ luật tố tụng hình sự vậy có sự mâu thuẫn không? Viện kiểm sát có thể căn cứ vào nội dung các tài liệu (bản Fax) để đề ra các yêu cầu, quyết định tố tụng không? Theo quan điểm cá nhân, các biên bản, tài liệu (bản Fax) không phải là chứng cứ nên không thể sử dụng làm căn cứ để ra các yêu cầu, quyết định tố tụng. Vì vậy, đề xuất cần quy định rõ việc chuyển giao bằng hình thức Fax chỉ để cung cấp thông tin, đảm bảo tính kịp thời, còn việc chuyển giao tài liệu làm căn cứ ban hành các Quyết định tố tụng phải trên cơ sở các tài liệu chính được chuyển giao theo các hình thức Bộ luật tố tụng hình sự quy định.

Nguyễn Đình Vinh, Kiểm tra viên VKSND quận Lê Chân, Hải Phòng
(Nguồn: vienkiemsathaiphong.gov.vn)

Tin khác đã đăng